BÀI SỐ 5: PHẠT CỌC, PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI – ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG ĐỒNG THỜI, GIỚI HẠN VÀ CÁCH XÂY DỰNG YÊU CẦU KHỞI KIỆN
Từ khóa : phạt cọc và bồi thường thiệt hại, phạt cọc và phạt vi phạm hợp đồng, Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, Điều 328 Bộ luật Dân sự, Điều 418 Bộ luật Dân sự, Điều 419 Bộ luật Dân sự, khởi kiện tranh chấp đặt cọc, yêu cầu phạt cọc mua bán đất.
1. Có được yêu cầu đồng thời phạt cọc, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại không?
Khi phát sinh tranh chấp đặt cọc, bên bị vi phạm thường muốn yêu cầu bên còn lại trả lại tiền cọc, chịu phạt cọc, chịu phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và trả lãi chậm thanh toán. Tuy nhiên, không phải cứ đưa tất cả các khoản này vào đơn khởi kiện thì Tòa án đều chấp nhận.
Cần phân biệt ba chế định pháp lý:
- Phạt cọc: Hậu quả pháp lý gắn với việc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng được bảo đảm bằng đặt cọc, theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 và thỏa thuận hợp pháp của các bên.
- Phạt vi phạm hợp đồng: Khoản tiền mà bên vi phạm phải trả theo thỏa thuận phạt vi phạm, được điều chỉnh bởi Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bồi thường thiệt hại: Khoản tiền nhằm bù đắp tổn thất phát sinh do vi phạm nghĩa vụ, được xem xét theo Điều 419, Điều 360 và các quy định liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 6 Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026 đã hướng dẫn cụ thể việc giải quyết một số yêu cầu liên quan đến phạt cọc, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và lãi do chậm trả. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026.
Theo khoản 5 Điều 6, nếu các bên không có thỏa thuận khác, khi một bên yêu cầu cả phạt cọc và bồi thường thiệt hại theo Điều 419 Bộ luật Dân sự, Tòa án xem xét chấp nhận cả hai yêu cầu.
Ngược lại, theo khoản 6 Điều 6, nếu các bên có thỏa thuận rằng khi một bên vi phạm nghĩa vụ thì vừa phải chịu phạt cọc, vừa phải chịu phạt vi phạm theo Điều 418 Bộ luật Dân sự, Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu phạt cọc và không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm đó.
Như vậy, không thể áp dụng một công thức chung rằng mọi khoản phạt đều được cộng dồn. Cần xác định bản chất từng khoản tiền, nội dung thỏa thuận và đúng trường hợp mà Nghị quyết hướng dẫn.
2. Phạt cọc: Căn cứ xác định và cách tính
Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của việc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng được bảo đảm bằng đặt cọc:
- Nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện, tài sản đặt cọc được trả lại hoặc được trừ vào nghĩa vụ trả tiền, trừ thỏa thuận khác.
- Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc, trừ thỏa thuận khác.
- Nếu bên nhận cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, bên nhận cọc phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ thỏa thuận khác.
Ví dụ, A đặt cọc 500 triệu đồng để mua một thửa đất của B. Nếu B thuộc trường hợp phải chịu phạt cọc theo quy định và không có thỏa thuận khác, B có thể phải trả lại 500 triệu đồng tiền cọc và thêm 500 triệu đồng tiền phạt cọc.
Tổng số tiền theo hai khoản này là 1 tỷ đồng, nhưng cần phân biệt rõ: 500 triệu đồng đầu tiên là tiền hoàn trả tài sản đặt cọc; 500 triệu đồng tiếp theo là khoản phạt cọc.
Trường hợp hợp đồng có thỏa thuận về mức phạt cọc khác với cơ chế thông thường, cần xem xét nội dung thỏa thuận và giới hạn áp dụng theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP. Theo hướng dẫn này, nếu mức phạt cọc được thỏa thuận vượt quá giá trị hợp đồng được bảo đảm, Tòa án quyết định mức phạt cọc không vượt quá giá trị hợp đồng tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Vì vậy, khi xây dựng yêu cầu khởi kiện, không nên chỉ ghi chung “yêu cầu phạt cọc gấp đôi”. Cần tách riêng số tiền phải hoàn trả và khoản tiền phạt cọc, đồng thời trình bày căn cứ tính toán.
3. Phạt cọc và bồi thường thiệt hại: Có thể yêu cầu đồng thời không?
Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn lớn, bởi khoản phạt cọc đôi khi không đủ bù đắp toàn bộ tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu.
Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, nếu một bên vừa yêu cầu phạt cọc vừa yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 419 Bộ luật Dân sự thì Tòa án xem xét chấp nhận cả hai yêu cầu.
Điều này có nghĩa là trong phạm vi hướng dẫn nêu trên, phạt cọc không mặc nhiên loại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, yêu cầu bồi thường không tự động được chấp nhận chỉ vì bên khởi kiện đã chứng minh được việc vi phạm và căn cứ phạt cọc. Người yêu cầu phải trình bày được thiệt hại thực tế hoặc khoản lợi ích bị mất thuộc phạm vi được bồi thường, căn cứ xác định số tiền và mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vi vi phạm.
Theo Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường lợi ích mà lẽ ra mình được hưởng từ hợp đồng và các chi phí phát sinh do việc không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, với điều kiện không trùng lặp với khoản bồi thường cho lợi ích mà hợp đồng mang lại. Điều luật cũng quy định về khả năng yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp phù hợp.
Ví dụ: A đặt cọc 500 triệu đồng để mua bất động sản của B. B vi phạm cam kết khiến giao dịch không thể hoàn tất. Ngoài yêu cầu hoàn trả tiền cọc và phạt cọc, A còn cho rằng mình phải chịu chi phí hợp lý để chuẩn bị giao dịch, đi lại, thẩm định tài sản hoặc phát sinh một khoản tổn thất khác.
A có thể đưa ra yêu cầu bồi thường, nhưng phải chứng minh từng khoản chi phí, căn cứ phát sinh và mối liên hệ với việc giao dịch không hoàn tất. Những khoản chi không có chứng cứ, không hợp lý hoặc không có quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm có nguy cơ không được chấp nhận.
Cần lưu ý rằng không được yêu cầu bồi thường trùng lặp cho cùng một thiệt hại dưới nhiều tên gọi khác nhau. Việc tách các khoản yêu cầu phải phản ánh những lợi ích hoặc tổn thất khác nhau, không phải nhằm nhân lên giá trị bồi thường.
4. Phạt cọc và phạt vi phạm hợp đồng: Giới hạn khi yêu cầu đồng thời
Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Đối với hợp đồng đặt cọc, cần phân biệt:
- Thỏa thuận phạt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự.
- Thỏa thuận phạt vi phạm đối với nghĩa vụ theo hợp đồng chính.
- Thỏa thuận phạt vi phạm đối với chính nghĩa vụ được quy định trong thỏa thuận đặt cọc.
Việc có nhiều điều khoản phạt trong hồ sơ không đồng nghĩa các khoản đó luôn được cộng dồn. Phải xác định từng khoản áp dụng cho nghĩa vụ nào, hành vi nào và có thuộc trường hợp khoản 6 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP điều chỉnh hay không.
Ví dụ: A đặt cọc 500 triệu đồng để mua đất của B. Hợp đồng ghi rằng nếu B không tiếp tục giao dịch thì B phải trả lại cọc, chịu phạt cọc và đồng thời chịu thêm một khoản phạt vi phạm bằng 10% giá trị hợp đồng.
Nếu thỏa thuận thuộc đúng trường hợp khoản 6 Điều 6 Nghị quyết điều chỉnh, Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu phạt cọc và không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm tương ứng. Bên khởi kiện không nên mặc nhiên tính cả hai khoản phạt như hai khoản độc lập được cộng dồn.
Tuy nhiên, cần phân tích chính xác phạm vi điều khoản. Nếu tranh chấp còn liên quan đến một nghĩa vụ độc lập trong hợp đồng chính, không nên chỉ dựa vào tên gọi “phạt vi phạm” để kết luận ngay có thể hoặc không thể yêu cầu khoản tiền đó. Phải đối chiếu nội dung cam kết, hành vi vi phạm và phạm vi áp dụng của Nghị quyết.
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo Điều 418
Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự quy định các bên có thể thỏa thuận bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại, hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại.
Nếu đã thỏa thuận phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận việc vừa phạt vừa bồi thường, theo quy định này, bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Quy định đó phải được đọc cùng Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP khi giải quyết tranh chấp đặt cọc. Không nên máy móc chuyển nguyên cơ chế của Điều 418 sang mọi tình huống phạt cọc, bởi Nghị quyết đã có hướng dẫn riêng về quan hệ giữa phạt cọc, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
5. Lãi chậm trả có được yêu cầu cùng với phạt cọc và bồi thường thiệt hại không?
Lãi chậm trả là một vấn đề riêng, không đồng nhất với phạt cọc, phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại.
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền đặt cọc theo Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; không chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền phạt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Nghị quyết hướng dẫn thời điểm tính lãi đối với khoản tiền đặt cọc là từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc.
Do đó, khi yêu cầu lãi, cần xác định:
- Ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền cọc.
- Ngày bên có nghĩa vụ thực tế hoàn trả, nếu đã trả một phần hoặc toàn bộ.
- Khoản tiền gốc còn phải trả trong từng giai đoạn.
- Lãi suất áp dụng theo quy định pháp luật hoặc thỏa thuận hợp pháp của các bên.
Không nên tính lãi trên toàn bộ tổng số tiền yêu cầu nếu tổng đó bao gồm cả khoản phạt cọc và các khoản bồi thường. Cần phân định rõ khoản tiền nào là tiền đặt cọc phải hoàn trả và khoản tiền nào thuộc loại nghĩa vụ khác.
6. Cách xây dựng yêu cầu khởi kiện: Tách từng khoản, nêu rõ căn cứ và chứng cứ
Một đơn khởi kiện tranh chấp đặt cọc nên thể hiện yêu cầu theo thứ tự logic, tránh gộp thành một con số tổng mà không giải thích được cấu thành.
Bước 1: Xác định quan hệ pháp luật và nghĩa vụ được bảo đảm
Trình bày ngày ký hợp đồng đặt cọc, tài sản giao dịch, số tiền đặt cọc, mục đích đặt cọc, thời hạn ký hoặc thực hiện hợp đồng chính và nghĩa vụ của từng bên.
Nếu có nhiều văn bản, cần chỉ rõ văn bản nào là hợp đồng đặt cọc, văn bản nào sửa đổi hoặc bổ sung thỏa thuận ban đầu.
Bước 2: Mô tả hành vi vi phạm và căn cứ xác định trách nhiệm
Nêu rõ bên bị kiện đã thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ nào, thời điểm vi phạm và hậu quả đối với giao dịch. Cần đính kèm chứng cứ như hợp đồng, chứng từ chuyển tiền, tin nhắn, thư điện tử, văn bản yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và biên bản thương lượng.
Không nên chỉ trình bày rằng “bên kia vi phạm nên phải phạt cọc” mà không chỉ ra điều khoản và hành vi cụ thể.
Bước 3: Tách riêng các yêu cầu về tiền
Có thể xây dựng phần yêu cầu theo cấu trúc sau:
Yêu cầu thứ nhất – Hoàn trả tiền đặt cọc: Xác định số tiền đã giao, số tiền đã được hoàn trả và số tiền còn phải trả.
Yêu cầu thứ hai – Phạt cọc: Nêu căn cứ theo Điều 328 Bộ luật Dân sự, điều khoản đặt cọc và Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP khi thuộc phạm vi áp dụng.
Yêu cầu thứ ba – Bồi thường thiệt hại: Liệt kê từng khoản thiệt hại, số tiền, căn cứ tính toán và tài liệu chứng minh; loại trừ các khoản trùng lặp.
Yêu cầu thứ tư – Phạt vi phạm hợp đồng: Chỉ đưa ra khi có căn cứ pháp lý và thỏa thuận phù hợp; phải đánh giá giới hạn theo khoản 6 Điều 6 Nghị quyết nếu yêu cầu này được đưa ra cùng yêu cầu phạt cọc.
Yêu cầu thứ năm – Lãi chậm trả: Xác định khoản tiền làm căn cứ tính lãi, thời điểm bắt đầu tính và lãi suất áp dụng theo quy định pháp luật hoặc thỏa thuận hợp pháp.
Việc tách yêu cầu giúp Tòa án xác định rõ đối tượng cần giải quyết, đồng thời giúp người khởi kiện tránh yêu cầu trùng lặp hoặc tính sai tiền lãi.
Bước 4: Chuẩn bị bảng tính yêu cầu khởi kiện
Có thể lập bảng nội bộ như sau:
| Khoản yêu cầu | Cách xác định | Chứng cứ cần có |
|---|---|---|
| Tiền cọc phải hoàn trả | Tiền đã giao trừ tiền đã hoàn trả | Hợp đồng, chứng từ giao nhận |
| Tiền phạt cọc | Theo Điều 328, thỏa thuận và hướng dẫn áp dụng | Hợp đồng đặt cọc, chứng cứ vi phạm |
| Bồi thường thiệt hại | Từng khoản thiệt hại hợp lệ, không trùng lặp | Hóa đơn, chứng từ, tài liệu chứng minh tổn thất |
| Phạt vi phạm | Theo thỏa thuận và giới hạn pháp luật | Điều khoản phạt vi phạm, chứng cứ vi phạm |
| Lãi chậm trả | Theo khoản tiền gốc, thời gian và lãi suất áp dụng | Tài liệu xác định ngày đến hạn và quá trình thanh toán |
Bảng này là công cụ kiểm soát số liệu, không thay thế phần trình bày căn cứ pháp lý trong đơn khởi kiện.
7. Ví dụ tổng hợp: Yêu cầu 1 tỷ đồng tiền cọc, phạt cọc và bồi thường ra sao?
Giả sử A đặt cọc 500 triệu đồng để mua một thửa đất. B nhận cọc nhưng sau đó từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng dù không có căn cứ miễn trách nhiệm. A khởi kiện và cho rằng mình có thêm 80 triệu đồng chi phí phát sinh do giao dịch không hoàn tất.
Nếu đáp ứng các điều kiện áp dụng Điều 328 Bộ luật Dân sự và Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, yêu cầu của A có thể được cấu trúc như sau:
- Hoàn trả tiền cọc: 500 triệu đồng.
- Phạt cọc: 500 triệu đồng, nếu áp dụng cơ chế thông thường và không có thỏa thuận khác.
- Bồi thường thiệt hại: 80 triệu đồng, với điều kiện A chứng minh được căn cứ và các khoản thiệt hại đủ điều kiện được bồi thường.
- Lãi chậm trả: Tính riêng trên khoản tiền đặt cọc phải hoàn trả theo điều kiện, thời điểm và lãi suất áp dụng.
Trong ví dụ này, A không nên tự động cộng thêm một khoản phạt vi phạm khác nếu yêu cầu đó thuộc trường hợp bị loại trừ theo khoản 6 Điều 6 Nghị quyết. Cũng không nên tính lãi trên khoản phạt cọc như thể đây là tiền đặt cọc phải hoàn trả, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ mà pháp luật hoặc thỏa thuận cho phép.
Các con số trên chỉ minh họa phương pháp lập yêu cầu. Kết quả giải quyết thực tế phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, chứng cứ, điều kiện áp dụng và đánh giá của Tòa án.
8. Kết luận: Chiến lược khởi kiện phải đúng căn cứ, đúng khoản tiền và đúng giới hạn
Phạt cọc, phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại là những chế định khác nhau. Việc áp dụng đồng thời phải căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015, thỏa thuận của các bên và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP.
Điểm cần đặc biệt lưu ý:
- Phạt cọc và bồi thường thiệt hại có thể được yêu cầu đồng thời trong trường hợp thuộc khoản 5 Điều 6 Nghị quyết.
- Nếu thỏa thuận vừa phạt cọc vừa phạt vi phạm cho trường hợp thuộc khoản 6 Điều 6, Tòa án xem xét chấp nhận phạt cọc và không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm đó.
- Lãi chậm trả phải được tính trên đúng khoản tiền có căn cứ tính lãi, đúng thời điểm và đúng lãi suất.
- Thiệt hại phải được chứng minh, có quan hệ với hành vi vi phạm và không bị yêu cầu bồi thường trùng lặp.
- Đơn khởi kiện nên tách từng khoản tiền, nêu căn cứ pháp lý và chứng cứ cụ thể để tránh yêu cầu vượt quá căn cứ được pháp luật bảo vệ.
Một hồ sơ tranh chấp đặt cọc được xây dựng tốt không chỉ chứng minh bên kia vi phạm, mà còn phải giải thích chính xác vì sao từng khoản tiền được yêu cầu là hợp pháp, có căn cứ và không trùng lặp.
GIỚI THIỆU CÔNG TY LUẬT TNHH 911
Công ty Luật TNHH 911 – Luật sư Vũ Ngọc Dũng cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát và soạn thảo hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng bất động sản, hợp đồng kinh tế và các giao dịch dân sự, thương mại. Công ty hỗ trợ đánh giá rủi ro, xác định căn cứ yêu cầu hoàn trả tiền cọc, phạt cọc, bồi thường thiệt hại, tính lãi chậm trả; đồng thời tư vấn phương án thương lượng, giải quyết tranh chấp và xây dựng hồ sơ khởi kiện theo quy định pháp luật.
Website: http://hopdongkinhte.vn
Thông tin liên hệ: Vui lòng tham khảo thông tin chính thức được công bố trên website của Công ty Luật TNHH 911.
#PhatCoc #PhatViPhamHopDong #BoiThuongThietHai #NghiQuyet032026NQHDTP #BoLuatDanSu2015 #HopDongDatCoc #KhoiKienTranhChapDatCoc #LaiChamTra #TranhChapBatDongSan #HopDongKinhTe #LuatSu911


