BÀI 12: TÀI SẢN SỐ ĐƯỢC DÙNG ĐỂ ĐẶT CỌC THEO NGHỊ QUYẾT 03/2026/NQ-HĐTP: CƠ SỞ PHÁP LÝ, ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG RỦI RO CHUYÊN SÂU

Ngày:

BÀI 12: TÀI SẢN SỐ ĐƯỢC DÙNG ĐỂ ĐẶT CỌC THEO NGHỊ QUYẾT 03/2026/NQ-HĐTP: CƠ SỞ PHÁP LÝ, ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG RỦI RO CHUYÊN SÂU

Từ khóa  chính: tài sản số dùng để đặt cọc theo Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP.

Từ khóa SEO liên quan: tài sản số là tài sản, đặt cọc bằng tiền mã hóa, đặt cọc bằng Bitcoin, Luật Công nghiệp công nghệ số 2025, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, hợp đồng đặt cọc bằng tài sản số, pháp lý tài sản mã hóa tại Việt Nam, tranh chấp tài sản số.

1. Bước tiến pháp lý: Tài sản số có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc

Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối, tài sản mã hóa và các giao dịch trên môi trường điện tử đặt ra yêu cầu phải xác định rõ địa vị pháp lý của tài sản số trong các quan hệ dân sự. Trước đây, nhiều giao dịch liên quan đến tài sản số gặp khó khăn khi xác định quyền tài sản, khả năng chuyển giao, giá trị và cơ chế bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp.

Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã dành Chương V quy định về tài sản số, trong đó có các Điều 46, 47 và 48.

Tiếp đó, Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về đặt cọc. Điều 5 Nghị quyết nêu rõ tài sản đặt cọc theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể là tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác, với ví dụ bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và tài sản số.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026.

Đây là bước tiến đáng chú ý vì tài sản số được đề cập trực tiếp trong hướng dẫn về tài sản đặt cọc, thay vì chỉ được xem xét một cách khái quát dưới khái niệm “vật có giá trị khác”.

Tuy nhiên, cần hiểu chính xác phạm vi của sự thừa nhận này: tài sản số có thể được dùng làm tài sản đặt cọc nếu đáp ứng các điều kiện của pháp luật; không phải mọi token, đồng tiền mã hóa, vật phẩm kỹ thuật số hoặc quyền lợi trên nền tảng trực tuyến đều đương nhiên đủ điều kiện.

Tư cách tài sản, quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt, khả năng giao chuyển và tính hợp pháp của giao dịch phải được đánh giá riêng.

2. Cơ sở pháp lý để sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc

2.1. Bộ luật Dân sự năm 2015: Nền tảng của chế định tài sản và đặt cọc

Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản, hiện có hoặc hình thành trong tương lai.

Điều 115 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 328 quy định đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trước khi có hướng dẫn cụ thể tại Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, việc xác định một tài sản số cụ thể có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc cần được xem xét thông qua hệ thống quy định chung này và pháp luật liên quan.

Điều 5 Nghị quyết đã đưa ra ví dụ trực tiếp về tài sản số, tạo cơ sở rõ ràng hơn cho việc áp dụng Điều 328 đối với loại tài sản này.

2.2. Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15

Điều 46 Luật Công nghiệp công nghệ số xác định:

“Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử.”

Điều 47 phân loại tài sản số, trong đó bao gồm tài sản ảo trên môi trường điện tử, tài sản mã hóa và tài sản số khác.

Theo cấu trúc của Luật, tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao. Luật cũng phân biệt tài sản mã hóa với chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định pháp luật liên quan.

Điều 48 quy định về quản lý tài sản số, bao gồm việc tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác lập quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ của các bên, an toàn thông tin, an ninh mạng và các nội dung quản lý khác.

Các quy định này giúp hình thành cơ sở pháp lý quan trọng để nhận diện tài sản số và quản lý những hoạt động liên quan. Tuy nhiên, việc một đối tượng thuộc phạm vi khái niệm tài sản số không đồng nghĩa với việc mọi hoạt động giao dịch đối với đối tượng đó đều được tự do thực hiện.

2.3. Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP: Cụ thể hóa tài sản số trong quan hệ đặt cọc

Điều 5 Nghị quyết đặt ra ba điều kiện trọng tâm đối với tài sản đặt cọc:

  • Tài sản không bị cấm hoặc hạn chế giao dịch theo pháp luật.
  • Tài sản có thể được giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ.
  • Tài sản có thể xác định giá trị bằng một khoản tiền nhất định tại thời điểm đặt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Giá trị tài sản đặt cọc có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp luật có quy định khác. Giá trị bằng tiền do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, Tòa án xác định tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

Như vậy, Nghị quyết không chỉ thừa nhận khả năng sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc mà còn đặt ra yêu cầu về tính hợp pháp, khả năng giao chuyển và định giá.

3. Phân biệt tài sản số, tài sản mã hóa và tiền mã hóa

Đây là nội dung đặc biệt quan trọng khi soạn thảo hợp đồng đặt cọc.

Tài sản số là khái niệm rộng, bao gồm các tài sản được thể hiện dưới dạng dữ liệu số và được tạo lập, lưu trữ, chuyển giao, xác thực bằng công nghệ số trên môi trường điện tử theo Luật Công nghiệp công nghệ số.

Tài sản mã hóa là một nhóm tài sản số có đặc điểm sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ tương tự để xác thực tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao.

Tiền mã hóa là cách gọi phổ biến trên thị trường đối với một số tài sản mã hóa có thể được sử dụng để trao đổi hoặc đầu tư. Tuy nhiên, tên gọi thương mại không quyết định bản chất pháp lý của tài sản.

Ví dụ, Bitcoin hoặc Ether thường được gọi là tiền mã hóa trong thực tiễn quốc tế. Khi xem xét sử dụng các tài sản này làm tài sản đặt cọc tại Việt Nam, các bên phải kiểm tra quy định pháp luật hiện hành về tài sản số, tài sản mã hóa, giao dịch và chuyển giao tài sản.

Ngoài ra, không nên nhầm lẫn tài sản số với tiền pháp định được thể hiện dưới dạng điện tử. Số dư tài khoản ngân hàng, tiền điện tử hoặc một công cụ thanh toán không mặc nhiên có cùng bản chất pháp lý với tài sản mã hóa.

Việc xác định đúng loại tài sản có ý nghĩa trực tiếp đối với quyền định đoạt, phương thức chuyển giao, khả năng định giá, nghĩa vụ thuế và cách xử lý khi tranh chấp.

4. Nghị quyết 05/2025/NQ-CP: Thí điểm thị trường tài sản mã hóa và giới hạn cần lưu ý

Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 của Chính phủ về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 9/9/2025, với thời gian thực hiện thí điểm là năm năm.

Nghị quyết này điều chỉnh việc chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức thị trường giao dịch, cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và quản lý nhà nước đối với thị trường trong phạm vi thí điểm.

Điều 3 Nghị quyết phân biệt tài sản số với tài sản mã hóa. Điều 4 đặt ra nguyên tắc thí điểm thận trọng, có kiểm soát, bảo đảm an toàn, minh bạch, tuân thủ pháp luật Việt Nam và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia.

Nghị quyết cũng quy định các nguyên tắc liên quan đến việc cung cấp dịch vụ trên thị trường tài sản mã hóa, giao dịch, thanh toán và xử lý vi phạm trong phạm vi thí điểm.

Vì vậy, cần phân biệt hai câu hỏi pháp lý:

  1. Một tài sản mã hóa có thể được xem xét là tài sản đặt cọc theo Bộ luật Dân sự và Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP hay không?
  2. Việc tạo lập, phát hành, chuyển giao, giao dịch hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa đó có tuân thủ Nghị quyết 05/2025/NQ-CP và các quy định chuyên ngành hay không?

Hai câu hỏi có liên quan nhưng không đồng nhất.

Điều 5 Nghị quyết 03 không thể được hiểu là một cơ chế miễn trừ khỏi quy định quản lý thị trường tài sản mã hóa. Các bên không thể viện dẫn việc tài sản số được nêu trong danh mục tài sản đặt cọc để bỏ qua những hạn chế giao dịch, điều kiện chuyển giao hoặc yêu cầu tuân thủ pháp luật chuyên ngành.

Đặc biệt, nếu giao dịch tài sản mã hóa thuộc phạm vi thị trường thí điểm, cần kiểm tra điều kiện áp dụng, chủ thể tham gia, tổ chức cung cấp dịch vụ, phương thức giao dịch và các giới hạn có liên quan theo Nghị quyết 05/2025/NQ-CP.

5. Điều kiện pháp lý để dùng tài sản số làm tài sản đặt cọc

5.1. Tài sản phải được nhận diện cụ thể

Hợp đồng không nên chỉ ghi “đặt cọc bằng tiền mã hóa” hoặc “đặt cọc bằng tài sản số”.

Cần mô tả tối thiểu:

  • Tên tài sản và ký hiệu.
  • Số lượng tài sản.
  • Mạng lưới hoặc hệ thống công nghệ liên quan.
  • Địa chỉ ví hoặc thông tin tài khoản nhận.
  • Tiêu chí xác nhận việc chuyển giao.
  • Giá trị quy đổi bằng tiền tại thời điểm đặt cọc.
  • Phương thức hoàn trả và xử lý khi phát sinh vi phạm.

Nếu có nhiều loại tài sản mang tên hoặc ký hiệu gần giống nhau trên các mạng lưới khác nhau, hợp đồng cần xác định chính xác tài sản được giao. Sai khác về mạng lưới hoặc loại token có thể khiến bên nhận không thể tiếp nhận hoặc sử dụng tài sản như dự kiến.

5.2. Người đặt cọc phải có quyền định đoạt hợp pháp

Việc kiểm soát một ví điện tử hoặc nắm giữ khóa riêng không phải lúc nào cũng đủ để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản.

Cần xem xét nguồn gốc tài sản, quyền kiểm soát, lịch sử giao dịch, các hạn chế pháp lý và khả năng tài sản đang bị phong tỏa, tranh chấp hoặc thuộc quyền của người khác.

Đối với tài sản do tổ chức nắm giữ, cần kiểm tra thẩm quyền của người ký, nghị quyết hoặc quyết định nội bộ nếu cần, và quyền của tổ chức đối với tài sản.

Đối với tài sản thuộc sở hữu chung, cần áp dụng hướng dẫn về sở hữu chung tại Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP và quy định pháp luật có liên quan.

5.3. Tài sản phải có khả năng được giao cho bên nhận cọc nắm giữ

Điều 5 Nghị quyết đặt ra điều kiện tài sản có thể giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ.

Đối với tài sản số, cần làm rõ “giao” được thực hiện bằng cách nào. Có thể là chuyển tài sản sang ví do bên nhận kiểm soát, chuyển qua cơ chế lưu ký phù hợp hoặc áp dụng một phương thức kỹ thuật khác có thể chứng minh được quyền kiểm soát theo thỏa thuận.

Chỉ cung cấp địa chỉ ví, ảnh chụp màn hình hoặc lời cam kết rằng tài sản đang tồn tại trong một tài khoản không nhất thiết chứng minh rằng tài sản đã được giao cho bên nhận cọc.

Hợp đồng cần xác định thời điểm hoàn tất giao nhận và bằng chứng được các bên công nhận. Nếu sử dụng ví đa chữ ký, hợp đồng thông minh hoặc bên lưu ký, phải quy định rõ chủ thể kiểm soát, quyền phê duyệt giao dịch và phương án xử lý khi một bên không hợp tác.

5.4. Tài sản phải có thể xác định giá trị bằng tiền tại thời điểm đặt cọc

Điều 5 Nghị quyết yêu cầu xác định được giá trị bằng tiền tại thời điểm đặt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đối với tài sản số có giá thị trường, các bên cần quy định nguồn tham chiếu, thời điểm chốt giá, loại tiền quy đổi và cách xử lý khi không có giá giao dịch đáng tin cậy.

Không nên chỉ ghi “giá trị tương đương 1 tỷ đồng” mà không nêu số lượng tài sản, giá tham chiếu, thời điểm định giá và cơ chế xử lý khi giá biến động.

Nếu các bên không thỏa thuận được giá trị bằng tiền, Điều 5 cho phép Tòa án xác định giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Điều này có thể làm phát sinh khoảng cách đáng kể giữa giá trị tại thời điểm giao tài sản và giá trị khi tranh chấp được giải quyết.

6. Rủi ro biến động giá: Cần phân biệt số lượng tài sản và giá trị tài sản

Giá tài sản số có thể biến động mạnh trong thời gian ngắn. Vì vậy, hợp đồng đặt cọc phải xác định rõ nghĩa vụ được bảo đảm là một số lượng tài sản cụ thể hay một giá trị tiền tệ tương đương.

Ví dụ, A đặt cọc cho B 10 đơn vị tài sản mã hóa, với giá tham chiếu tại thời điểm giao là 100 triệu đồng mỗi đơn vị, tổng giá trị quy đổi là 1 tỷ đồng.

Nếu giá thị trường sau đó giảm còn 60 triệu đồng mỗi đơn vị, tổng giá trị quy đổi còn 600 triệu đồng. Nếu giá tăng lên 150 triệu đồng mỗi đơn vị, tổng giá trị quy đổi thành 1,5 tỷ đồng.

Hai cách thiết kế hợp đồng sẽ tạo ra hậu quả khác nhau:

  • Nếu đối tượng đặt cọc là 10 đơn vị tài sản số, nghĩa vụ hoàn trả về nguyên tắc phải được xác định theo chính tài sản và thỏa thuận hợp pháp.
  • Nếu các bên thỏa thuận tài sản được dùng để bảo đảm một giá trị tiền xác định, cần quy định rõ cách quy đổi, xử lý biến động và phương thức thanh toán khi hoàn trả.

Không nên để hợp đồng vừa mô tả tài sản theo số lượng, vừa cam kết giá trị cố định mà không giải thích quan hệ giữa hai yếu tố.

Ngoài ra, giá trị tài sản đặt cọc không đồng nhất với mức phạt cọc. Việc xử lý phạt cọc còn phải tuân thủ Điều 328 Bộ luật Dân sự và Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP.

7. Rủi ro kỹ thuật: Ví điện tử, khóa riêng, mạng lưới và giao dịch không thể đảo ngược

Tài sản số có đặc điểm kỹ thuật khác với tiền hoặc tài sản hữu hình. Một giao dịch chuyển tài sản có thể không thể đảo ngược theo cơ chế của mạng lưới. Nếu tài sản được chuyển đến sai địa chỉ hoặc sai mạng lưới, khả năng khôi phục có thể rất hạn chế.

Hợp đồng cần xử lý tối thiểu các rủi ro sau:

Sai địa chỉ nhận: Xác định ai có trách nhiệm cung cấp, kiểm tra và xác nhận địa chỉ ví. Nên có cơ chế xác nhận độc lập trước khi chuyển tài sản.

Sai mạng lưới hoặc sai loại token: Ghi rõ mạng lưới, tiêu chuẩn token và tài sản được chấp nhận. Không chỉ ghi ký hiệu giao dịch nếu ký hiệu đó có thể xuất hiện ở nhiều mạng lưới.

Mất khóa riêng hoặc mất quyền truy cập: Xác định ai chịu trách nhiệm bảo quản thông tin kiểm soát và cách xử lý nếu mất quyền truy cập.

Tài khoản bị khóa hoặc tài sản bị phong tỏa: Quy định nghĩa vụ thông báo, cung cấp thông tin, phối hợp xử lý và cách xác định trách nhiệm khi việc phong tỏa xuất phát từ hành vi của một bên.

Sự cố mạng lưới: Xác định thời điểm giao dịch được xem là hoàn tất, số xác nhận cần thiết nếu phù hợp và phương án xử lý khi mạng lưới bị gián đoạn.

Sử dụng bên lưu ký: Xác định rõ bên lưu ký có vai trò gì, ai là chủ thể có quyền yêu cầu rút tài sản và điều kiện giải phóng tài sản khi nghĩa vụ được hoàn thành.

Những điều khoản này không chỉ là vấn đề kỹ thuật. Chúng trực tiếp liên quan đến việc chứng minh giao nhận tài sản, xác định vi phạm và phân bổ trách nhiệm pháp lý.

8. Tài sản số có thể được dùng để đặt cọc mua bán bất động sản không?

Về nguyên tắc, Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP nêu tài sản số là ví dụ về tài sản có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc nếu đáp ứng điều kiện pháp luật.

Tuy nhiên, phải phân biệt việc sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc với việc sử dụng tài sản số làm phương tiện thanh toán giá chuyển nhượng.

Một hợp đồng có thể xác định tài sản số là tài sản đặt cọc nhằm bảo đảm nghĩa vụ ký hợp đồng chuyển nhượng bất động sản. Nhưng điều đó không có nghĩa các bên được tự do sử dụng tài sản mã hóa làm phương tiện thanh toán trong mọi giao dịch.

Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đặt ra các quy định riêng về thị trường tài sản mã hóa, bao gồm nguyên tắc thanh toán bằng Đồng Việt Nam đối với hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết. Vì vậy, cần đánh giá riêng tính hợp pháp của việc chuyển giao tài sản đặt cọc và việc thanh toán giá chuyển nhượng.

Khi soạn thảo, nên xác định rõ:

  • Tài sản số được dùng để bảo đảm nghĩa vụ nào.
  • Giá chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng đồng Việt Nam hay theo cách khác phù hợp pháp luật.
  • Tài sản số sẽ được hoàn trả, khấu trừ hay xử lý khi hợp đồng chính được ký.
  • Nếu giao dịch bất động sản không hoàn thành, tài sản số được hoàn trả bằng chính tài sản hay quy đổi thành tiền theo cơ chế nào.
  • Việc xử lý tài sản có tuân thủ quy định pháp luật về tài sản mã hóa và các quy định chuyên ngành hay không.

Không nên mặc nhiên ghi nhận tài sản số là phương tiện thanh toán cho giá chuyển nhượng chỉ vì tài sản đó được các bên chấp nhận làm tài sản đặt cọc.

9. Phạt cọc khi đặt cọc bằng tài sản số: Tính bằng tài sản hay bằng tiền?

Đây là một vấn đề cần được quy định chặt chẽ trong hợp đồng.

Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định hậu quả phạt cọc dựa trên tài sản đặt cọc. Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP cho phép tài sản đặt cọc có thể là tài sản ngoài tiền và yêu cầu xác định giá trị bằng tiền tại thời điểm đặt cọc.

Tuy nhiên, khi tài sản đặt cọc là tài sản số, cần làm rõ:

  • Tài sản phải hoàn trả là chính loại tài sản đã nhận hay một giá trị tiền tệ tương đương.
  • Khoản phạt cọc được xác định theo số lượng tài sản số hay theo giá trị quy đổi bằng tiền.
  • Thời điểm định giá dùng để xác định nghĩa vụ hoàn trả và khoản phạt.
  • Cách xử lý nếu tài sản không thể chuyển giao hoặc không còn khả năng truy cập.
  • Giới hạn mức phạt cọc theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết, nếu thuộc trường hợp áp dụng.

Ví dụ, A đặt cọc cho B 5 đơn vị tài sản số. Nếu hợp đồng chỉ ghi “phạt cọc gấp đôi” mà không giải thích việc hoàn trả và phạt cọc được tính bằng số lượng tài sản hay bằng tiền, khi giá tài sản biến động, các bên có thể tranh chấp về giá trị thực tế phải thanh toán.

Vì vậy, hợp đồng nên có điều khoản riêng về định giá và cách thực hiện nghĩa vụ khi vi phạm, thay vì chỉ sử dụng mẫu phạt cọc dành cho giao dịch bằng tiền.

10. Chứng cứ khi tranh chấp tài sản số

Trong tranh chấp tài sản số, việc chứng minh giao nhận tài sản thường cần nhiều loại chứng cứ kết hợp.

Các tài liệu nên được lưu giữ gồm:

  • Hợp đồng đặt cọc và các phụ lục.
  • Tài liệu xác định quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản.
  • Thông tin địa chỉ ví, mã giao dịch và dữ liệu xác nhận trên mạng lưới.
  • Tài liệu của nền tảng hoặc tổ chức lưu ký, nếu có.
  • Bằng chứng về thời điểm chuyển giao và quyền kiểm soát sau giao dịch.
  • Tài liệu xác định giá trị tài sản tại thời điểm đặt cọc.
  • Thỏa thuận về phương thức hoàn trả và xử lý khi vi phạm.
  • Trao đổi giữa các bên về việc giao nhận, xác nhận tài sản và thực hiện nghĩa vụ.

Dữ liệu trên mạng lưới có thể giúp chứng minh một giao dịch đã được ghi nhận, nhưng không phải lúc nào cũng tự chứng minh đầy đủ danh tính của người thực hiện, quyền sở hữu hợp pháp hoặc mục đích pháp lý của giao dịch.

Vì vậy, không nên chỉ dựa vào ảnh chụp màn hình hoặc một mã giao dịch mà thiếu hợp đồng và chứng cứ xác định chủ thể.

11. Mẫu cấu trúc điều khoản đặt cọc bằng tài sản số

Khi sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc, hợp đồng nên có điều khoản riêng bao gồm:

Thứ nhất, xác định tài sản: Tên, ký hiệu, loại tài sản, số lượng, mạng lưới, địa chỉ ví và các thông tin nhận dạng cần thiết.

Thứ hai, xác định quyền định đoạt: Bên giao cam kết có quyền hợp pháp đối với tài sản, không có tranh chấp hoặc hạn chế giao dịch mà không công bố.

Thứ ba, xác định phương thức giao nhận: Địa chỉ nhận, người kiểm soát, thời điểm giao nhận hoàn tất, bằng chứng xác nhận và cách xử lý giao dịch sai.

Thứ tư, xác định giá trị: Nguồn giá tham chiếu, thời điểm định giá, loại tiền quy đổi và cơ chế xử lý khi không có giá đáng tin cậy.

Thứ năm, xác định mục đích đặt cọc: Bảo đảm giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng hoặc cả hai; nghĩa vụ cụ thể được bảo đảm.

Thứ sáu, xác định hoàn trả: Trả lại chính tài sản hay quy đổi thành tiền; thời hạn, phương thức chuyển giao và bên chịu chi phí giao dịch.

Thứ bảy, xác định hậu quả vi phạm: Phạt cọc, bồi thường thiệt hại, lãi chậm trả nếu có căn cứ, và cách xử lý khi việc giao chuyển tài sản bị cản trở.

Thứ tám, xác định rủi ro kỹ thuật và pháp lý: Sự cố mạng lưới, mất quyền kiểm soát, phong tỏa, hạn chế chuyển giao và nghĩa vụ phối hợp của các bên.

Điều khoản phải phù hợp với pháp luật hiện hành. Thỏa thuận giữa các bên không thể loại bỏ những điều kiện bắt buộc về giao dịch, quản lý tài sản mã hóa hoặc các quy định chuyên ngành khác.

12. Kết luận: Thừa nhận tài sản số là bước tiến, nhưng không đồng nghĩa với tự do giao dịch tuyệt đối

Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 tạo nền tảng pháp lý cho việc nhận diện và quản lý tài sản số. Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP tiếp tục cụ thể hóa khả năng sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc, với các điều kiện về tính hợp pháp, khả năng giao cho bên nhận cọc nắm giữ và khả năng xác định giá trị.

Tuy nhiên, ba vấn đề phải được phân biệt rõ:

  1. Tài sản có được pháp luật nhận diện là tài sản hay không.
  2. Chủ thể có quyền định đoạt và có thể giao chuyển tài sản đó hợp pháp hay không.
  3. Giao dịch cụ thể có tuân thủ các quy định về tài sản mã hóa, thị trường thí điểm và pháp luật chuyên ngành hay không.

Một tài sản số có thể có giá trị kinh tế nhưng vẫn phát sinh hạn chế pháp lý hoặc rủi ro kỹ thuật khiến việc sử dụng làm tài sản đặt cọc không phù hợp. Ngược lại, nếu tài sản đáp ứng điều kiện pháp luật và hợp đồng được xây dựng chặt chẽ, việc sử dụng tài sản số làm tài sản đặt cọc có thể mở rộng phương thức bảo đảm giao dịch trong nền kinh tế số.

Đối với các giao dịch có giá trị lớn, cần đặc biệt chú trọng quyền định đoạt, khả năng chuyển giao, cơ chế định giá, chứng cứ giao nhận, điều khoản hoàn trả và giới hạn trách nhiệm khi vi phạm. Đây là những yếu tố quyết định khả năng bảo vệ quyền lợi khi phát sinh tranh chấp.


GIỚI THIỆU CÔNG TY LUẬT TNHH 911

Công ty Luật TNHH 911 – Luật sư Vũ Ngọc Dũng tư vấn pháp luật về hợp đồng đặt cọc, hợp đồng kinh tế, giao dịch bất động sản và các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản số, tài sản mã hóa, công nghệ chuỗi khối và hoạt động kinh doanh trên môi trường số.

Dịch vụ bao gồm rà soát và soạn thảo hợp đồng; đánh giá quyền sở hữu, quyền định đoạt và điều kiện chuyển giao tài sản; xây dựng điều khoản định giá, hoàn trả và xử lý vi phạm; phân tích rủi ro pháp lý của giao dịch tài sản số; hỗ trợ thương lượng và giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.

Website: http://hopdongkinhte.vn

Thông tin liên hệ: Vui lòng tham khảo thông tin chính thức được công bố trên website của Công ty Luật TNHH 911.

#TaiSanSo #TaiSanMaHoa #DatCocBangTaiSanSo #NghiQuyet032026NQHDTP #LuatCongNghiepCongNgheSo #NghiQuyet052025NQCP #HopDongDatCoc #Bitcoin #Blockchain #PhapLyTaiSanSo #HopDongKinhTe #LuatSu911

LUẬT SƯ 911 - HỆ THỐNG LUẬT SƯ
"HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN"
-------------------------------------------
Liên hệ với Luật sư :
P: 0938188889 - 0387696666 - 0386319999

LIÊN HỆ LUẬT SƯ 911

    THEO DÕI LUẬT SƯ 911

    spot_img

    Nội dung phổ biến

    Các tin khác cùng chuyên mục
    LUẬT SƯ 911